Công Nghệ Và Kỹ Thuật Đóng Cọc

Giá ép cọc bê tông nhà dân

1. Công Nghệ Đóng Cọc: Đóng Cọc Ở Nơi Không Có Nước Mặt:

Đóng cọc trên mặt đấ, trước khi đào hố móng:
Trong trường hợp này, đầu cọc được đóng chìm sâu dưới mặt đất. Do đó khi hạ cọc đến sát mặt đất, phải dùng thêm cọc đệm và đóng tới khi đạt yêu cầu thiết kế.
Cọc đệm được rút lên và dùng cho các cọc sau:
– Khi di chuyển giá búa để đóng cọc hàng sau chỉ cần bẩy dần đường ray lùi về phía sau 1 đoạn bằng khoảng các 2 hàng dọc. Để đường ray di chuyển với cự ly ngắn nhất và số lần ít nhất, có thể sử dụng giá búa quay được 360 độ.
– Sau khi đóng cọc, tiến hành đào móng, gia cố vách đào, bơm hút nước, đập đầu cọc, đặt cốt thép và đúc bệ móng.

• Ưu nhược điểm:
 Không cần dựng giàn giáo cho giá búa.
– Giảm đáng kể thời gian hút nước hố móng.
– Vì quá trình đóng cọc trên mặt đất nên điều kiện an toàn lao động được thuận lợi, giảm giá thành xây dựng.
– Nếu không dùng cọc đệm mà đầu cọc nằm sâu dưới mặt đất thì phải cưa phá đầu cọc quá dài lãng phí.
– Nếu dủng cọc đệm, trọng lựng cọc tăng, lực ma sát tăng làm giảm hiệu quả công tác đóng cọc.

• Đóng cọc sau khi đào hố móng:
So với phương pháp trên, thứ tự thi công 2 công việc cơ bản là đào móng và đóng cọc hoàn toàn trái ngược nhau.
Tùy theo kích thước hố móng, địa chất xung quanh móng, có thể chọn 1 trong các biện pháp sau đây:
+  Đưa giá búa vào làm việc trong hố móng:
+ Sau khi san phẳng hố đào, chuyển các bộ phận giá búa và lắp nó ngay trong hố móng.
+ Trong trường hợp này, kích thước hố móng phải được mở rộng đủ cho giá búa đóng được tất cả các cọc.
+ Biện pháp này thích dụng cho các loại móng có kích thước lớn, không gặp nước ngầm, ít sử dụng trong móng cầu nhưng được sử dụng nhiều trong xây dựng nhà dân dụng và công nghiệp.

• Giá búa làm việc trên dàn giáo:

+ Kết hợp với công tác đào đất và chống vách gia cố hố  móng, có thể dựng 1 sàn đạo có giàn giáo chống đỡ và cao bằng mặt đất xung quanh:
– Phương án này có lợi thế là không dùng cọc đệm vì cần giá búa có khả năng lắp dài thêm xuống dưới.
– Việc làm thêm giàn giáo và sàn đạo gây tốn vật liệu, thời gian và khó đạt được năng suất cao, chỉ dùng khi giàn giáo được tháo lắp nhanh và có thể thu hồi toàn bộ để dùng cho các lần sau.





– Nếu móng hẹp, có thể trực tiếp bắc sàn nhịp ngắn qua hố đào. Nó có thể tựa trên bờ hay trên vòng vây.



+ Giá búa làm việc trên cầu di động: 
– Cầu di động thường được chế tạo bằng dầm thép hình, tháo lắp cơ động, được sử dụng niều công trình. Nó có thể di chuyển bằng bàn tới hệ múp cáp,…
– Giá búa có thể di chuyển theo 2 phương trên mặt bằng rất cơ động vùa lấy cọc vừa hạ cọc ở bất kỳ vị trí nào trong hố móng, năng suất sẽ rất cao, không tốn nhiều vật liệu và công lao động, hiệu quả nhất là trường hợp hố móng có chiều dài khá lớn.


+ Đóng cọc dùng cần trục và cột dẫn hoặc khung dẫn cọc:
– Trường hợp đơn giản và hiệu quả nhất là dùng cần trục tự hành di chuyển trên bờ hồ móng, gắn thêm cột dẫn cọc và lắp thanh chống ngang để điều chỉnh cột dẫn đóng thăng hay xiên.

– Trình tự thi công :

+ Dùng cần trục hạ khung định vị đã được lắp sẵn trên bờ xuống hố móng.
+ Xỏ 4 cọc vào 4 ô góc của khung và đóng tới cao độ thiết kế.
+ Cố định khung tựa vào 4 cọc vừa đóng, tiếp tục dùng cần trục xỏ các cọc vào các ô quy định, sau đó cẩu búa đặt vào từng cọc và hạ cọc đến mặt trên khung.
+ Dùng cẩu kéo khung ra khỏi hố móng và tiếp tục đóng cọc đến cao độ thiết kế.
+ Biện pháp này không cần đường ray, không cần bẩy, kích hoặc dùng tời kéo di chuyển, có thể dùng đào đất, lắp vòng vây gia cố, lắp dựng ván khuôn, đặt cốt thép, đúc bê tông móng,…
Đóng cọc khi có nước mặt:
Đắp đảo và đóng cọc trên đảo:
+ Biện pháp này áp dụng khi mực nước thi công không sâu, vận tốc dòng chảy nhỏ, không xảy ra khi xói lở và điều kiện đắp đảo thuận lợi.
+ Thứ tự thi công cọc tương tự như đóng cọc nơi không có nước nhưng cần đặc biệt chú ý vấn đề nền móng và an toàn cho các công trình tậm vì thi công trên nền đắp bão hòa nước.

  • Đóng cọc trên giàn giáo (cầu tạm):

 

Giàn giáo là 1 loại cầu tạm để vận chuyển cọc, vật tư, thiết bị và bố trí đường di chuyển của giá búa.
Cấu tạo gồm:
+ Các trụ palê dựng trên là những cọc gỗ hoặc thép.
+ Trên các trụ palê có bắc dầm dọc gỗ hoặc thép để đỡ hệ cầu rộng khoảng 2m.
+ Hệ mặt cầu có cấu tạo đơn giản gồm ray, tà vẹt và ván lót cho người đi.
+ Biện pháp này có hiệu quả khi độ sâu mực nước dưới 2m, 1 số trường hợp trên 2m thậm chí 5 – 6m.
+ Đóng cọc trên mặt nước có thể lợi dụng những cọc đã đóng trước làm móng để sàn đạo:
Giải pháp này sẽ hiệu quả hơn nếu dùng giá búa được thay thế bằng tổ hợp cần trục và cột dẫn với điều kiện cự ly cọc tương đối ngắn, phù hợp với tầm với của cần trục.
Còn khi dùng giá búa thì chỉ hạn chế giá búa nhẹ để đóng các bố trí theo chiều ngang trong phạm vi hẹp, áp dụng cho trụ ít cọc, cầu khổ nhỏ, nhiều nhịp ngắn.
 Nói chung, giải pháp dùng sàn đạo hoặc cầu tạm có ưu điểm ít phụ thuộc vào thời tiết, mực nước lên xuống và dòng chảy.
Đóng cọc trên phương tiện nổi:
Biện pháp đặt thiết bị đóng cọc trên phương tiện nổi thường được áp dụng khi:
+ Mực nước sâu từ 2 – 3m trở lên.
+ Việc xây dựng cầu tạm tốn kém và cản trở thông thường.
Trong thời gian búa hoạt động, phương tiện nổi phải được neo giữ cố định tại địa điểm thi công.
Một số giải phap đóng cọc trên hệ nổi:
+ Đóng cọc trên phao KC:
-Phao được I chuyển bằng tời cáp và dây neo, việc neo giữ mất nhiều thời gian, năng suất thấp vì phải di chuyển hệ phao từ cọc này sang cọc khác.
-Vận chuyển cọc cho giá búa cũng khó khăn vì vướng các cọc đã đóng trước.
-Vì phao tương đối nhẹ nên rất sễ nghiêng lệch, khó đóng chính xác.
Đóng cọc trên xà lan:
-Giá búa được cố định tại 1 đầu của xà lan.
-Cọc được dùng bởi xà lan khác.
=> Hai phương án trên chỉ áp dụng trong trường hợp chưa có hoặc không vướng vòng vây. Khi nâng hạ cọc và khi búa hoạt động, hệ nổi dễ chòng chành phải dùng đối trọng.
Đóng cọc trên xà lan ghép đôi:
– Hai xà lan được ghép song song bởi hai dầm liên kết kiểu dàn thép tạo thành hệ nổi, khoảng cách thông thủy giữa hai xà lan phụ thuộc kích thước móng.
– Dọc theo xà lan bố trí 2 đường ray trên mặt boong tạo ra đường di động cho cầu nối ngang.
– Ngoài ra còn có các phương khác như đóng cọc bằng cần trục trên hệ nổi, đóng cọc dùng sàn nổi tự nâng.

2. Kỹ Thuật Đóng Cọc:
Công tác chuẩn bị:
– Cọc được tập kết bên cạnh giá búa với số lượng tính toán, vận chuyển bằng xe gòong, xà lan.
– Trước khi dựng cọc vào giá búa, phải kiểm tra lại khuyết tật có khả năng xảy ra trong lúc bốc xếp, vận chuyển.
– Để dễ dàng theo dõi cọc khi đóng, cần vạch sơn trên thân cọc bắt đầu từ mũi cọc cách nhau 1m đến gần đỉnh cọc cách nhau 50, 20, 10, 5cm. Ngoài ra còn phải căng dây mực từ mũi đến đỉnh cọc để lấy đường tim trên 2 mặt thân cọc.
Đóng cọc:
– Khi cọc lún xuống 1 đoạn nhất định dưới tác dụng trọng lượng búa, tiến hành chỉnh hướng và kiểm tra vị trí cọc lần cuối cùng bằng máy trắc đạc theo đường mực cả 2 hướng.
– Sau đó cho búa đóng nhẹ vài nhát để cọc cắm vào đất và để kiểm tra cọc, búa, hệ thống dây và độ ổn định của giá búa. Cuối cùng cho búa hoạt động bình thường.
– Khi đóng cọc trong đất yếu, phải giữ cọc bằng dây thừng cho đến khi hạ búa thì nới lỏng dần.
– Trong quá trình đóng cọc cần phải theo dõi thường xuyên:
+ Vị trí cọc, nếu phát hiện sai lệch cần điều chỉnh ngay.
+ Tốc độ lún xuống của cọc phải phù hợp với mặt cắt địa chất:
– Khi cọc ngừng xuống hoặc giảm lún đột ngột và búa nẩy dội lên thì chứng tỏ gặp chướng ngại vật, nếu không vượt qua vật cản cọc sẽ gãy, cọc tụt xuống đột ngột và trục tim cọc bị lệch hướng.
– Khi mũi cọc gãy, cọc xuống không đều khi ít.
Một số vấn đề chú ý:
An toàn lao động:
– Khi nâng hạ cọc phải chú ý điều kiện ổn định của giá búa, chống lật đổ đổ bằng đối trọng, chêm chàn, dây néo.
– Khi di chuyển búa, phải hạ thấp quả búa và móc chốt cẩn thận.
– Luộn theo dõi hệ thống tời, múp cáp để phát hiện thời trước khi xảy ra sự cố.
– Dẫn hơi nóng phải bố trí cao, không bị xì, hở.
– Làm việc trên giá búa phải đeo dây an toàn.
– Khi búa hoạt động phải cảnh giới, không được vào gần, theo dõi từ xa vạch sơn và đường mực trên cọc bằng máy.
Năng xuất:
– Phần lớn thời gian đều dành cho khâu chuẩn bị, động tác đóng cọc trực tiếp chỉ chiếm 20 – 30% toàn bộ thời gian, giá búa di chuyển hợp lý nhất, việc cung ứng và định vị cọc nhanh nhất.
– Đóng cọc theo nguyên tắc: cọc đóng trước không ảnh hưởng cọc đóng sau, đường di chuyển giá búa thuận lợi nhất.
Trình tự đóng cọc:
Đóng cọc theo hàng:
Phần lớn búa di chuyển ngang và chỉ dật lùi những bước ngắn, búa đóng hàng ngoài cùng trước và hàng ngoài cùng đối diện:
– Nếu hàng ngoài cùng là hàng cọc xiên thì đóng hàng cọc thẳng trước rồi nghiêng cần giá búa để đóng cọc xiên.
– Khi đóng cọc trong khung dẫn hướng (Không dùng giá búa), thì đóng theo trình tự bình thường.
Ưu điểm điểm:
– Cho năng suất cao với hàng cọc ít, cầu khổ rộng vì ít di chuyển giá búa.
– Đất nền sẽ bị nén chặt không đều và có hiện tượng mặt đất bị trồi lên, nếu móng nhiều hàng cọc sẽ bị lún lệch, nhất là trong đất sét:
Đóng cọc theo đường xoắn ốc:
Phương pháp này đóng cọc từ giữa theo đường xoắn ốc ra ngoài. Nếu ngược lại:
– Đất ở giữa sẽ bị dồn nén đến mức không thể hạ được cọc cuối cùng tới cao độ thiết kế.
– Giá búa bị cản trở nhiều bởi các  cọc đã đóng trước.
Ưu nhược điểm:
– Phương pháp này sử dụng hiệu quả cho các loại móng rộng gồm nhiều hàng cọc, đóng trong bất kỳ loại địa chất nào, đất được nén chặt đều trong phạm vi móng.
Đóng cọc theo phân đoạn:
– Trước hết đóng 1 số dãy cọc riêng lẻ để phân đoạn thành những khoảng bằng nhau, từng khoảng cọc được đóng như cách 1, tốt nhât là dùng 2 búa đóng song song.
– Phương pháp này dùng tốt trong đất sét và móng lớn và đất được nén chặt đều đặn trên toàn bộ diện tích.
Trường hợp ít cọc và bố trí thưa:
– Khoảng cách giữa 2 cọc <(4 – 5)d thì thứ tự đóng ít ảnh hưởng đến biến dạng đất nền, chủ yếu dựa vào điều kiện thi công thuận lợi mà chọn thứ tự đóng.
Nguyên nhân cọc bị lệch, nứt khi đ1ong và biện pháp khắc phục:
– Chất lượng đóng cọc ngoài yêu cầu phải đóng đến cao trình thiết kế và đạt sức chịu tải còn đòi hỏi cọc không lệch quá nhiều hay bị nứt:
Nếu cọc bị lệch ở trong hạng mục lắp ghép sẽ gây khó khăn khi lắp ghép phần trên và làm thay đổi tính chất chịu lực, ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
– Nếu cọc bị gãy gây nên tổn thất nghiêm trọng về giá thành và tiến độ thi công và giảm chất lượng công trình.
– Nếu cọc bê tông bị nứt sẽ bị nứt sẽ bị ăn mòn làm hỏng bê tông và cốt thép làm giảm tuổi thọ công trình.
=> tổ chức thi công đúng đắn để ngăn ngừa sự cố trên. Nhưng trong thực tế thi công vẫn xảy ra cọc bị lệch, nứt, cần tìm biện pháp xử lý.
Cọc bị lệch:
Do đóng cọc: 
Nguyên nhân:
– Do trước khi đóng không điểu chỉnh đúng vị trí.
– Trong quá trình đóng không kịp thời điều chỉnh.
– Do thiết bị và thao tác xe đối trọng không đảm bảo cho hệ nổi ổn định.
= > Đây là nguyên nhân chủ yếu.

Biện pháp đề phòng:
– Điều chỉnh  nhiều lần: từ trước khi hạ cọc, khi hạ cọc tiếp xúc với mặt đất, khi cọc tự hạ xuống, khi tự hạ xuống lần 2.
– Cho cọc xuống từ từ đồng thời di chuyển xe đối trọng bảo đảm hệ nổi ngang bằng, xe đối trọng phải đủ trọng lượng và điều khiển di chuyển nhanh.
Do mái nghiêng:
– Khi đóng cọc trên mái nghiêng rất dễ bị lệch thường 20cm có khi 50 – 100cm là hiện tượng phổ biến nghiêm trọng.
– Nguyên nhân:
+ Do trượt trên mái nghiêng: khi mũi cọc tiếp xúc với mái nghiêng hay đóng xiên âm thì có 1 phần tốc độ dọc theo mái nghiêng làm cọc bị lệch. Thực tiễn chứng minh khi mái dốc 1:1-1:2 nhất định cọc sẽ bị chạy, mái dốc 1:3-1:4 thì đỡ hơn, mái dốc thoải hơn nữa thì ít ảnh hưởng.
Do áp lực không đều: Vì mái nghiêng làm áp lực đất 2 bên cọc khác nhau làm cọc lệch.
Do hố móng đào thành bậc thang: khi cọc ở gần chỗ bậc thang dễ làm vỡ đất sinh ra chạy dọc.

Biện pháp đề phòng:
– Khi phát hiện cọc bị chạy, trước hết phải xác định độ lệch, định vị lại cho cọc về phía trước bờ và đóng cho cọc xuống nhanh.
– Ngoài ra khi đóng có thể cho cọc ngả về phía sau có thể giảm được cọc lệch.
Do đất trượt:
Nguyên nhân:
+ Lý do quan trọng nhất là búa chấn động ảnh hưởng đến đất xung quanh cọc, phạm vi ảnh hưởng đến đất xung quanh cọc, phạm vi ảnh hưởng đến 30m, đất bị chấn động làm giảm cường độ chống cắt nên dễ bị trượt.

Biện pháp đề phòng:
– Giảm ảnh hưởng chấn động do đóng cọc: như dùng búa lớn, độ rơi bé, đóng chậm. Nếu dùng 2 tàu cùng đóng cọc thì bố trí cách nhau 30 – 40m để tránh cộng hưởng.
– Giảm hoạt tải trên bờ và nếu có thể thì đào bớt mái dốc để giảm áp lực .
– Khi đào mái dốc phải đào từng lớp để tránh khối trượt nhỏ dẫn đến khối trượt lớn.
– Kịp thời thoát nước dốc để giảm áp lực nước ngầm.
– Khi đóng trên hệ nổi, gió cấp 5 và sóng cấp 2 không được đóng cọc. Nếu thủy triều có độ chênh lớn, chu kỳ ngắn ảnh hưởng rất lớn đến đóng cọc, nếu thời gian đóng 1 cọc dưới 20 phút thì không cần xét đến ảnh hưởng của thủy triều nhưng nếu lâu hơn thì phải điều chỉnh dây neo.
Do các yếu tố khác:
– Chất lượng cọc, vị trí búa, mũi cọc, nhất là mũi cọc lệch, đầu cọc phẳng và trọng tâm cọc – búa – mũi cọc không nằm trên đường thẳng đều có làm cọc bị lệch.
Biện pháp khắc phục khi cọc bị lệch mà không thể kéo về vị trí thiết kế:
+ Sửa đổi kích thước kết cấu phần trên theo vị trí thiết kế của cọc đồng thời kiểm tra tình hình chịu lực của cọc khi cần sửa lại thiết kế.
+Khi cọc lệch quá nhiều thì nhổ lên đóng lại thường dụng cho cọc còn đang đóng, còn khi cọc đã đóng xong rồi thì rất ít khi nhổ lên mà nêu thấy cần thiết thì đóng thêm 1 cọc nữa ở vị trí chính xác.
Cọc bị nứt gãy:
– Nguyên nhân: Do cẩu và vận chuyển cọc: điểm cẩu và điểm kê phải chính xác theo yêu cầu thiết kế, không được tùy tiện thay đổi rất dễ gãy cọc.
– Bãi chứa cọc bị lún cũng làm thay đổi tình chịu lực của cọc làm cho cọc bị nứt gãy.
– Ong suất sinh ra trong quá trình đóng cọc là nguyên nhân chính làm nứt gãy cọc. Loại ứng suất này do động năng của búa làm cho cọc bị nén đồng thời đẩy cọc xuống đất, sau khi đến vị trí cự hạn, dưới tác dụng của lực đàn hồi sinh ra ứng suất búa kích có thể đến 50 – 80kg/cm3. Phạm vi ứng suất lớn nhất cách mũi cọc từ (0.5 – 0.9) chiều dài cọc nên cọc thường bị nứt trong phạm vi đó.
– Ngoài ra còn do thao tác không tốt như on lăn đẩy cọc, lực cố ép khi kéo cọc.
Cách xử lý khi nứt gãy:
– Nếu nứt bé không dài quá ½ chu vi cọc và nằm dưới mặt bùn từ 5 – 6m thì có thể bọc vòng thép đại tại nơi bị nứt và tiếp tục đóng đến cao trình thiết kế (đai thép ngăn cho vết nứt không phát triển).
– Nếu vết nứt lớn dài quá ½ chu vi cọc hay nằm trên mặt bùn và gần cung trượt thì ngừng đóng cọc, tiến hành và cọc dưới nước:
Dùng ống BTCT bọc khe nứt sau đó đổ vữa xi măng dưới nước, trước đó phải đục xờm và rửa sạch mặt cọc.
Dùng vữa xi măng vá khe nứt:
Nếu cọc bị gãy thì phải nhỏ lên đóng lại cọc khác. Nếu nhổ không được thì đóng thêm 1 cọc khác bên cạnh nó.
 Để tránh và giảm bớt hiện tượng cọc bị nứt gãy, phải tuyệt đối tuân thủ quy định thi công và phải thường xuyên quan sát tình hình phát sinh trong quá trình đóng cọc.

3. Hạ Cọc Bằng Búa Chấn Động:
Đối với cọc có đường kính nhỏ:
Phương pháp rung để hạ cọc rất hiệu quả trong đất cát và sỏi vì biên độ và tần số dao động của búa đủ triệt tiêu lực cản do ma sát với đất xung quanh cọc.
Đóng cọc bằng búa chấn đông có 1 số điểm khác với búa đóng:
Cọc và búa liên kết chặt chẽ với nhau.
Cọc và búa không tựa và trượt lên cột dẫn như búa đóng.
Búa rung có bánh xe ( róc rách) chạy trên cọc dẫn.
Trục búa và cọc hoàn toàn trùng nhau.
Đối với cọc có đường kính lớn ( cọc ống):
Thông thường cọc ống có đường kính lớn đúc sẵn được hạ rất sâu nên nó thường lớn và nặng, thi công qua nhiều công đoạn đặc biệt.
Trình tự chung khi xây dựng móng cọc ống lớn đúc sẵn có những công việc chính sau:
– Lắp nối cọc.
– Dựng sàn đạo, khung dẫn và giá búa.
– Hạ cọc bằng búa chấn động.
– Đào đất trong cọc, khoan đá nếu thiết kế yêu cầu.
– Độn ruột.
– Xây dựng bệ cọc.
Cẩu cọc:
– Sau khi chuyển cọc tới vị trí, cẩu nâng cọc từ trạng thái nằm ngang sang tư thế thẳng đứng để thả cọc vào khung dẫn.
– Nếu cọc chưa đủ dài phải tạm thời treo cọc vào khung dẫn để nối thêm các đoạn khác.
Nối cọc:
– Nối cọc tại khung dẫn thường dùng liên kết bu lông thao tác đơn giản và đáng tin cậy do liên kết hàn khó đảm bảo kỹ thuật mặc dù tiết kiệm thep hơn.
– Để cản khong cho nước rỉ vào khi hút nước trong ống, sau đó xiết bu lông nên hàn 2 mép mặt bích để bịt kín khe hở. Vì khó đổ bê tông bọc mối nối nên dùng keo epoxy hay bitum nóng để chống gỉ cho mối nối.
– Sau khi nối đủ chiều dài và chuẩn bị rung hạ cọc, cần vạch sơn trên hân cọc để tiện theo dõi khi hạ cọc.
– Cuối cùng đặt búa rung trên đầu cọc và bắt bu lông liên kết mặt bích trên đỉnh cọc.
Hạ cọc:
– Cọc ống thường được hạ từng đợt tùy theo điện thế và cường độ dòng điện, thường cho búa hoạt động trong 1 đợt chỉ khoảng 10 phút ( tùy theo lý lịch búa) và kết hợp kiểm tra tình hình liên kết búa và cọc.
– Sau thời gian tạm dừng (Khoảng vài giờ) lại tiếp tục cho búa hoạt động trở lại.
– Kinh nghiệm thi công cọc ống bằng búa chân động cho thấy: thời gian trực tiếp hạ cọc chỉ chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ 1% tỷ lệ rất nhỏ 1% trong thời gian xây dựng móng cọc ống; thời gian nâng hạ cọc và liên kết với cọc ống,… khoảng 10 – 20%, thời gian còn lại là công tác đào đất trong làng cọc.
Đào đất:
– Đào và lấy đất trong cọc ống là công việc khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ thi công móng cọc ống.
– Phương tiện đào đất trong ruột có thể là gàu ngoạm hoặc các loại máy hút:
+ Đối với đất sét và đất có lẫn sỏi cuội, cọc ống có thể thẳng đứng hoặc xiên 1:8 thì có thể dùng gàu ngoạm. Tốt nhất là dùng gàu 4 hàm, hàm mở phải < đường kính trong của cọc ít nhất 30cm.
+ Đối với đất cát, á cát hoặc sét dễ xói thì có thể dùng máy hút thủy lực hoặc khí nén (erlio)
+ Trong trường hợp khi hạ cọc ống gặp nhiều cuội lớn, đá mồ côi hoặc vĩa đá, búa rung không thể hạ cọc và nếu các thiết bị đào đất bất lực thì có thể dùng tổ hợp khoan phá đá để tạo hốc cho cọc đi xuống.

4. Hạ Cọc Bằng Phương Pháp Xói Nước:
Nguyên lý và điều kiện ứng dụng:
Dùng hệ thống nước cao áp xói nước ở mũi cọc để giảm ma sát xung quanh cọc. Dưới tác dụng trọng lượng bản thân và trọng lượng búa cọc sẽ hạ xuống. Sau khi ngừng xói nước đất bị tơi sẽ nhặt dần trở lại và ép chặt lấy mặt cọc.
Đặc điểm của phương pháp này:
Các loại đất như bùn, cát, cát cuội, sét đầu có thể dùng phương pháp này nhưng dùng trong đất cát là hiệu quả nhất.
Năng suất hạ cọc cao: hơn búa trọng lực 40 – 80%, hơn búa hơn 20 – 30%.
Thân cọc ít bị tổn thương trong quá trình hạ cọc.
Nhược điểm lớn nhất là tốn quá nhiều điện, gấp 25 lần so với búa chấn động.
Hạn chế sử dụng phương pháp này ở các công trình lân cận đang sử dụng.
Công nghệ hạ cọc bằng xói nước kết hợp với búa đóng:
Khi hạ cọc tiết diện đặc, ống xói được bố trí đói xứng dọc thân cọc và được cố định bằng đinh đĩa hoặc đai thép.
– Ống xói có thể đặt ngoài đối xứng chung quanh cọc. Tránh hiện tượng nghiêng khi xói nước.
– Ống xói có thể đặt trong lòng cọc trùng với tim cọc.
– Trong trường hợp hạ cọc xiên thường sử dụng 3 ống xói trong đó 1 ống bố trí trên lưng cọc và 2 ống bố trí 2 bên.
Đối với cọc rỗng thường bố trí ống xói bên trong lòng rỗng. Cọc chữ H bố trí ống xói ở giữa bản cánh và bản bụng. Cọc ván thép bố trí đối xứng với đường trục của vòng vây và gần khớp nối để áp sát vào cọc đã hạ.
Khi hạ bằng vòi xói cần chú ý các điểm sau:
– Giữ cho ống xói thấp dưới mũi cọc khoảng 20 – 30 cm và nâng hạ ống xói đều đặn bằng tời 0.5 – 1 tấn.
– Theo dõi vạch ghi trên cọc và trên ống xói.
– Máy bơm đặt gần chỗ hạ cọc để giảm bớt tổn thất áp lực nước dọc đường và phải dự trữ máy bơm.
– Kiểm tra thiết bị xói trước khi hạ.
– Không tự tiện ngừng máy bơm khi đang hạ cọc để tránh cho bùn khỏi làm tắc ống. Nếu tắc ống phải rút lên 1 đoạn rồi phun nước thông ống xói.
– Phải có van an toàn đề phòng máy bơm hỏng hóc.
Trình tự công nghệ:
– Lắp ống xói vào cọc và máy bơm, kiểm tra hoạt động bình thường của hệ thống.
– Dựng cọc lên cột dẫn và hạ búa lên đầu cọc.
– Mở máy bơm nước cho tất cả các vòi xói hoạt động, cọc lún xuống do trọng lượng bản thân và búa.
– Thường xuyên nâng hạ ống xói nhưng bao giờ cũng thấp hơn mũi cọc.
– Thường xuyên theo dõi vị trí, chiều hướng và tốc độ tụt xuống của cọc để kịp thời điều chỉnh bằng điều tiết chế độ xói của từng ống riêng biệt.
– Khi mũi cọc cách cao độ thiết kế 1 – 2m, phải ngừng xói và nâng cao ống lên quá mũi cọc.
– Cho búa tiếp tục đóng đoạn còn lại.
– Rút ống xói và tháo dỡ thiết bị.

5. Công Tác Nghiệm Thu Móng Cọc:
Khi nghiệm thu móng cọc phải căn cứ vào các biên bản sau:
– Biên bản định vị móng cọc.
– Số liệu địa chất và địa chất thủy văn khu vực có móng cọc.
– Số liệu về tính ăn mòn của nước ngầm hoặc nước trên mặt.
– Các biên bản về các công trình ẩn dấu.
– Mặt bằng thi công bố trí cọc.
– Sổ nhật ký đóng cọc.
– Biểu ghi các cọc đã đóng hoặc đúc tại chỗ.
– Tài liệu về các cuộc thí nghiệm cọc.
– Kiểm tra tải trọng động với các cọc và kiểm tra tải trọng tĩnh nếu thấy cần thiết.

Công Nghệ Và Kỹ Thuật Đóng Cọc
Rate this post

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*